13 tháng 4, 2009

Chứng Khoán Toàn Cầu -Đâu là tia sáng cuối đường hầm khủng hoảng

Khủng hoảng kinh tế bùng nổ 2007 và kéo dài tới nay, Vấn đề phân tích khủng hoảng luôn là đề tài nóng trên mọi diễn dàn kinh tế thế giới nhung để hiểu rõ về khủng hoảng , tôi xin phép tổng hợp từ các thông tin xác định nguyên nhân khủng hoảng :

+Nguyên Nhân sâu xa khủng hoảng

+Nguyên nhân trực tiếp

1. Nguyên Nhân sâu xa ( chính sách tín dung vào 2001)


Năm 2001 là nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng với 3 lý do

1. Khủng bố 11/9 gây hoảng loạn thị trường tài chính chứng khoán toàn cầu

2. Scandal của Enron, dính của TT Mỹ và nhiều quan chức khác làm phá sản 1 thành viên của Big 5 về kiểm toán (hiện nay còn Big 4) là Andesen.

3. Phá sản hàng ngàn công ty "dot com" khi người ta thấy rằng tất cả công ty trên có lợi nhuận "ảo" như mạng Internet vậy. Chỉ có Google tồn tại vào khoảng thời gian này cho đến ngày nay do công ty đó tốt "từ trong bản chất".


Vì những lý do như thế đã làm TTCK sụt thê thảm, ngài Alan Greenspan, nguyên Chủ Tịch FED thực hiện chính sách lõng lẽo tín dụng nhằm giúp Mỹ vượt qua khủng hoảng. Alan đã phải hạ lải suất liên tục để kích cầu, nợ dưới chuẩn sinh ra trong khoảng thời gian này tăng lên đột biến . Sự dễ dàng trong tín dụng đến nỗi người người được vay, nhà nhà được vay, ai cũng có thể vay.Và việc các ngân hàng bỏ qua những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo đảm rủi ro.

Nguồn tiền này đi trực tiếp vào chứng khoán và làm chứng khoán lên giá dữ dội phục hồi sau khủng hoảng 11/9. Thế là Ngài Alan từng được ca ngợi như 1 anh hùng, cho đến nay lại bị người ta coi như tội đồ vì những hành động của mình. Đúng là cuộc sống thành công và thất bại cách nhau 1 sợi chỉ. Như người ta hay nói "chữ tài đi với chữ tai một vần".Và nguồn vốn này cũng đổ mạnh vào bất động sản, tạo ra bong bóng phì to, to mãi và nổ vào cuối 2007, gây hậu quả tàn phá dữ dội 2008, Còn kéo dài.


Tuy nhiên,tôi cũng hoàn toàn tán đồng với ý kiến của George Soros, Ông nhận xét biến động hiện nay của nền kinh tế có nguồn gốc từ sự thiếu điều tiết thị trường tài chính những năm 1980 và chính sách sự tự do hóa thị trường tài chính bắt đầu từ thời Tổng thống Ronald Reagan đã dẫn đến một loạt khủng hoảng và buộc các chính phủ phải hành động gấp rút. 2007 sẽ là năm dấu chấm hết cho mô hình thị trường tự do đã tồn tại bao lâu nay tại các nước tư bản.

2.Nguyên Nhân trực tiếp khủng hoảng- Nền kinh tế Mỹ mất thăng bằng đột ngột

Có khá nhiều lý giải nguyên nhân của cuộc khủng khoảng, Sau đây là 1 số nguyên nhân theo tôi là điểm nhấn của cuộc đại suy thoái.

Sai lầm chiến thuật – Tiêu dùng lên ngôi

Đây được xem là nhân tố chính dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ nền kinh tế Mỹ. Chúng ta đều biết phần còn lại của thế giới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu thì nước Mỹ đã chọn cho mình một con đường riêng để duy trì đà tăng trưởng kinh tế đó là khuyến khích và đẩy mạnh tiêu dùng nội địa. Trong nhưng năm qua tiêu dùng của người dân luôn chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của nước này và hiện đang tỷ trọng lớn đến 70% GDP. Chiến lược này trong một thời gian đã tỏ ra rất hiệu quả khi lòng tin của người tiêu dùng vào triển vọng của nền kinh tế đang ở mức cao nhưng nó đã tạo nên một lỗ hổng to lớn trong nền kinh tế đó chính là làm cho nền kinh tế trở nên mất cân bằng.


Tiêu dùng của người dân Mỹ đã dần dần trở nên quá mức bởi tư tưởng lạc quan thái quá và được khuyến khích bởi sự dễ dãi của các tổ chức tín dụng trong cho vay tiêu dùng. Chính điều đó đã tạo khoản thâm hụt thương mại cực lớn và có dấu hiệu ngày càng tăng, đồng thời hệ thống kinh tế trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết bởi các mối quan hệ vay nợ dễ dãi và chồng chéo.


Nói đi thì phải nói lại, chúng ta có thể đặt giả thiết ‘Nếu Mỹ không có chính sách khuyến khích tiêu dùng thì phần còn lại của thế giới sẽ sản xuất cho ai, có tăng trưởng mạnh nhờ xuất khẩu được không?’ Hầu hết các quốc gia đều xuất khẩu sang Mỹ mà thu về USD để tái đầu tư, mở rộng sản xuất và tăng cường thu hút FDI. Trong cuộc khủng hoảng hiện tại, Mỹ không tiêu thụ hàng hóa nữa thì phần còn lại của thế giới đình đốn sản xuất , ngay cả VN, TQ, Nhật bản... tất cả đều xuất khẩu rơi thảm hại. Vì thế, phần còn lại của thế giới rất cần chính sách tiêu dùng của Mỹ. Tôi tin rằng trên thế giới chỉ có và duy nhất Mỹ mới thực hiện được chính sách này. Bởi vì để thực hiện được chính sách tiêu dùng này, theo tôi, quốc gia đó cần 3 yếu tố sau :

+Dân số phải đông

+Thu nhập GNP per person phải cao

+Thói quen tiêu dùng và tiết kiệm thấp


Mỹ hoàn toàn có đủ cơ sở để thực hiện chính sách tiêu thụ hàng hóa thế giới đó là vai trò góp phần tăng trưởng phát triển của phần còn lại của thế giới.


Nhiều thông tin về việc kỳ vọng China sẽ thay thế Mỹ trong việc tiêu thụ hàng hóa trên thế giới, theo tôi thì chưa có cơ sở. Như chúng ta biết China có hơn 1 tỷ dân, đứng về gốc độ nhà đầu tư SX, điều đó không đảm bảo rằng nếu Bạn cố gắng đầu tư sản xuất để xuất khẩu vào China là thành công. Vì :


Vấn đề 1 :Thu nhập hiện tại của China chưa cao, thêm vào sự phân hóa giàu nghèo tăng cao. Thực tế, nhu cầu hàng cấp thấp rất cao. Tôi được biết China vượt Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ xe hơi lớn nhất. Tuy nhiên, sản lượng ô tô giá rẻ chiếm tỷ trọng lớn và lợi nhuận phần lớn các hãng ô tô đều là ở thị trường Mỹ. Tất nhiên, nếu ở China , bạn chỉ có thể bán theo chỉ tiêu Revenue thôi. Trong tương lai, tôi nghĩ China sẽ cải thiện, nhưng không thể trong 3 đến 5 năm, mà cần dài hơn.


Vấn đề 2 : Thói quen của người tiêu dùng châu Á – tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng. Mà chúng ta có thể thấy ở Nhật- quốc gia giàu có bật nhất thế giới nhưng tỷ trọng tiêu thụ thấp hơn tiết kiệm. Liệu China có thay đổi được thói quen của đại đa số người dân sau khi cải thiện thu nhập

Tôi nghĩ dù chỉ trích thế nào thì phần còn lại của thế giới cần sự chi tiêu hào phóng của người Mỹ.


Sai lầm thanh khoản – Đòn bẩy Tài chính thương mại

Để tài trợ cho khoản thâm hụt thương mại cực lớn của mình, Mỹ đã sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài bằng cách phát hành trái phiếu ra toàn thế giới và các nước đã hăng hái mua các trái phiếu này đặc biệt là China và các nước Châu Á. Tôi ví von rằng « China đã đem hàng hóa cho Mỹ tiêu sài, rồi phải đem tiền cho Mỹ mua hàng của China ».Tính chung cho 5 năm trở lại đây trung bình mỗi ngày nước Mỹ vay nợ thêm 2 tỷ USD. Và các nhà kinh tế theo chủ nghĩa hoài nghi đã cảnh báo nguy cơ khủng hoảng nhưng các cảnh báo này đã bị bỏ qua. Thậm chí có nhiều nhà kinh tế cho rằng thâm hụt thương mại của Mỹ sẽ được bù đắp bởi các khoản đầu tư của các nước trên thế giới quay ngược trở lại nước Mỹ và cán cân thanh toán vẫn cân bằng. Họ lập luận rằng hệ thống kinh tế bao giờ cũng có khả năng tự điều chỉnh về mức cân bằng do đó không có vấn đề gì đáng lo ngại.

Tuy nhiên các nhà kinh tế lạc quan đã vô tình bỏ qua một yếu tố hết sức quan trọng trong nhận định của mình. Bởi lẽ khi thâm hụt thương mại của một quốc gia tăng lên liên tục trong nhiều năm thì hiễm nhiên đồng tiền của quốc gia đó nhiều khả năng sẽ phải giảm giá do ngân hàng trung ương có thể phải in thêm tiền nhằm tài trợ cho khoản thâm hụt này.


Công cụ USD – Con dao ba lưỡi

Lưỡi thứ nhất- giải quyết nợ nần

Mỹ tiếp tục sử dụng các khoản nợ nước ngoài nhằm tài trợ cho tiêu dùng thì khi các khoản nợ này đáo hạn đồng USD sẽ được in ra để trả nợ với khối lượng lớn do đó không còn hấp dẫn giới đầu tư. Xu hướng này nếu xảy ra sẽ tiếp tục kích thích giới đầu cơ thực hiện một cuộc tấn công tiền tệ chống lại đồng USD và do đó trong hoàn cảnh xấu nhất có thể gây ra khủng hoảng nghiêm trọng.

Lưỡi thứ hai- Đâm vào niềm tin đầu tư

Đồng USD mất giá, lòng tin của công chúng vào triển vọng kinh tế xấu đi lập tức sẽ dẫn tới người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu và nước Mỹ mất đi động lực chính của mình cho tăng trưởng và chìm vào suy thoái toàn diện.

Lưỡi thứ ba – Đâm ra kinh tế toàn cầu

USD là đồng tiền dự trữ toàn thế giới. Những biến động của USD sẽ tác động tiêu cực đến tài sản dự trữ của nhiều nước. Do đó, thật dễ hiểu khi khủng hoảng xảy ra, China nước nắm giữ nhiều USD nhất muốn có 1 đồng tiền mới thay thế USD. Tôi sẽ đề cập thêm trong phần USD index.

Lõng lẽo tín dụng ( do chính sách năm 2001)- rủi ro VaR

Các tổ chức tín dụng phải gánh chịu hậu quả đầu tiên bởi các khoản cho vay dễ dãi của họ không có khả năng thu hồi. Các khoản vay này lại được chứng khoán hóa và bán cho giới đầu tư khiến cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi giới đầu tư bị thiệt hại nặng nề. Đến lượt mình giới đầu tư lại bán tháo các khoản đầu tư đang nắm trong tay khiến chúng rớt giá thảm hại gây thiệt hại nặng cho các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng đầu tư sụp đổ khiến các khoản ủy thác đầu tư của công chúng bốc hơi và đẩy hàng trăm ngàn người vào cảnh khánh kiệt. Bên cạnh đó các tổ chức kinh tế lớn phá sản sẽ khiến hàng triệu người khác lâm vào cảnh mất việc và đến lượt họ lại cắt giảm chi tiêu tối đa hoặc không thanh toán được các khoản nợ của mình.

Có thể nói Mỹ đã rơi vào một vòng xoáy không có lối thoát do nó tự gây ra cho mình bởi tính tự mãn và sự kiêu ngạo của các nhà hoạnh định chính sách.


( tổng hợp nhiều nguồn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét