Cầu đối với vàng được biết đến trên phạm vi toàn cầu. Trên sàn giao dịch ngoại hối và vàng trên toàn cầu, thì vàng luôn nằm dưới dạng tài khoản dựa trên các công cụ Option, Futures… tạo nên sự tăng “giá ảo” cho vàng trong ngắn hạn. Nhưng giá vàng luôn có quy luật nhất định trong dài hạn dựa trên nhu cầu thật về vàng. Sau đây là những nhu cầu thật của vàng mà tôi nêu lên nhằm giúp các nhà đầu tư có thể định hướng giá vàng trong tương lai dài hạn. Đồng thời, chúng ta có thể biết được liệu thị trường vàng tăng hay giảm giá trong ngắn hạn bị tác động mạnh của đầu cơ làm giá hay là nhu cầu thật sự của thị trường.
Đông Á, các vùng lãnh thổ của Ấn Độ và Trung Đông là thị trường có sức tiêu thụ khoảng 72 % nhu cầu vàng của thế giới trong năm 2007. 55 % nhu cầu thuộc về các nước Ấn độ, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Trung Quốc. Mỗi thị trường được quy định bởi một bộ phận các yếu tố văn hoá và kinh tế xã hội khác nhau. Sự thay đổi nhanh về dân số và các biến động kinh tế xã hội khác ở các quốc gia tiêu thụ vàng chính có thể tạo ra những hình thức mới liên quan đến nhu cầu vàng. Nhu cầu về vàng có thể có các hình thức sau:
1. Nhu cầu về trang sức.
Trang sức luôn chiếm khoảng 3/4 nhu cầu về vàng. Trong 12 tháng của năm 2007, nhu cầu trang sức ước tính trị giá khoảng 54 tỷ đô la Mỹ, khiến trang sức trở thành một trong những loại hàng hoá tiêu thụ lớn nhất trên thế giới. Nếu tính theo giá trị bán lẻ, Mỹ là thị trường lớn nhất tiêu thụ trang sức làm bằng vàng, trong khi đó Ấn Độ là nước tiêu thụ lớn nhất nếu tính theo số lượng - chiếm khoảng 25% nhu cầu của thế giới trong năm 2007.
Nhu cầu vàng của Ấn Độ xuất phát từ truyền thống văn hoá và tín ngưỡng, những yếu tố này không có liên quan trực tiếp đến xu hướng kinh tế toàn cầu.
Nhìn chung, nhu cầu trang sức được quy định bởi cả hai yếu tố tài chính và sở thích của người tiêu dùng và có xu hướng tăng trong thời kỳ giá cả các mặt hàng ổn định hoặc tăng dần và ngược lại trong thời kỳ giá cả biến động. Một mức giá tăng ổn định sẽ củng cố giá trị vốn có của trang sức bằng vàng. Tiêu thụ trang sức ở thị trường đang phát triển đã và đanng được mở rộng nhanh chóng trong những năm gần đây sau một thời gian suy giảm liên tục, ngoài những thị trường đã được khai thác một số nước trong đo có cả Trung Quốc vẫn có tiềm năng đáng kể đối với nhu cầu về trang sức.
Niềm đam mê đối với vàng cung cấp cho ta một cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố khích lệ phụ nữ khác nhau trên thế giới mua trang sức bằng vàng đồng thời cung cấp cho ta tầm nhìn đối với nhu cầu trang sức.
2. Nhu cầu đầu tư
Do một tỷ lệ lớn nhu cầu đầu tư được giao dịch qua thị trường tự do, nên không dễ để có thể tính toán được. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng nhu cầu đầu tư vàng mà chúng ta có thể ước tính được đã tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây. Từ năm 2003, đầu tư vàng đã thể hiện sức tăng trưởng mạnh mẽ nhất với mức tăng trưởng ước tính theo giá trị lên tới 280% vào cuối năm 2007. Đầu tư vàng thu hút luồng vốn đầu tư thực ước tính khoảng 15 tỷ đô vào năm 2007.
Có một loạt lý do và biến động khiến người dân và các cơ quan, tổ chức tìm kiếm cơ hội đầu tư vào vàng. Và rõ ràng có một triển vọng về giá cả rất tích cực ẩn dấu đằng sau trông đợi rằng sức tăng trưởng của nhu cầu đối với kim loại quý này sẽ tiếp tục làm cạn kiệt nguồn cung. Điều đó chính là lý do rõ ràng để đầu tư vào vàng. Trong số những yếu tố quyết định nhu cầu đầu tư, thì một yếu xuyên suốt có thể thấy được là tất cả đều có gốc rễ từ khả năng của vàng trong vấn đề kháng cự lại sự mù mờ, bất ổn và giúp chống lại các nguy cơ tiềm ẩn.
Đầu tư vàng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, một số nhà đầu tư có thể chọn cách kết hợp từ hai hoặc nhiều giải pháp với nhau để tăng tính linh hoạt. Sự phân biệt giữa mua vàng chất và đầu tư lướt sóng vàng không phải lúc nào cũng rõ ràng, đặc biệt kể từ khi chúng ta có thể đầu tư vàng trên sàn mà thực tế không hề nhận vàng vật chất.
Tăng trưởng của nhu cầu đầu tư vàng đã được phản chiếu bởi sự phát triển của các hình thưc đầu tư và hiện tại có hàng loạt các hình thức đầu tư phù hợp với cả cá nhân và tổ chức.
3.Nhu cầu sử dụng cho công nghiệp
Việc sử dụng vàng cho nha khoa và các ngành công nghiệp chiếm khoảng 13% nhu cầu về vàng ( trung bình hàng năm sử dụng khoảng trên 425 tấn trong giai đoạn từ 2003 đến 2007). Tính dẫn điện và nhiệt cao của vàng và khả năng chống hao mòn chính là lý do giải thích cho việc nhu cầu sử dụng vàng trong công nghiệp tăng cao. Ứng dụng vàng trong y học cũng có lịch sử lâu đời và ngày nay các ứng dụng ý tế khác càng ngày càng phong phú đã giúp tận dụng tính tương thích của vàng trong hỗ trợ các hoạt động sinh lý như khả năng chống lại sự tấn công của vi khuẩn, hao mọi và các thuộc tính khác. Một nghiên cứu gần đây đã khám phá ra một loạt công dụng mới của vàng chẳng hạn như là chất xúc tác trong pin cũng như trong các phản ứng hoá học và khống chế ô nhiễm, công nghệ cao và chữa trị ung thư.
”Sức khỏe” của các nền kinh tế trên thế giới, xu hướng biến động các đồng tiền là những yếu tố quan trọng có tác động lớn đến chiến lược đầu tư trên toàn thế giới.
EUR - USD
Kinh tế Mỹ tiếp tục chìm trong suy thoái, thị trường chứng khoán có hồi phục nhất thời nhưng ko bền vững, Chính phủ Mỹ, quỹ Dự trữ liên bang FED và Bộ Tài chính đang nỗ lực giải cứu thị trường tài chính, kích thích nền kinh tế chống đỡ với suy thoái.
FED với chính sách hạ lãi suất tới mức thấp nhất và mua bond cùng commercial pagers, phối hợp cùng với Bộ Tài chính, chính phủ Mỹ thực hiện các gói giải cứu kinh tế, xóa bỏ các tài sản xấu của hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro lạm phát khiến USD index sẽ không bền vững trong dài hạn.
Việc Golman Sach muốn trả lại tiền cứu trợ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến kế hoạch Public- Private của Bộ trưởng tài chính Mỹ. Kế hoạch Stress - Test tạo nên tâm lý bất ổn cho thị trường chứng khoán và ngoại hối.
Tôi có thể nói thị trường ngoại hối sẽ biến độ bất ngờ và mạnh trước thông tin Stress-test, vì thế nếu bạn đầu tư ngoại hối xin lưu ý thông tin này.
Khu vực châu Âu cũng đang rơi vào tình trạng suy thoái. Tuy nhiên đang có sự không thống nhất quan điểm cũng như hành động chung trong việc cứu trợ cũng như kích thích kinh tế khu vực châu Âu.
Ngân hàng Trung ương châu Âu tiếp tục thực hiện chính sách cắt giảm lãi suất, họ vẫn để ngỏ khả năng cắt giảm lãi suất trong các kỳ họp sắp tới..
Trong xu hướng giảm giá mạnh trong thời gian qua, hiện tỷ giá EUR-USD đang nằm ở mức thấp tuy nhiên tốc độ mất giá đã chậm đi đáng kể. Nguyên nhân do một số định chế tài chính khu vực châu Á vẫn đang thực hiện việc mua vào để kinh doanh các nghiệp vụ quyền chọn option, giới đầu tư kỳ vọng ECB sẽ không thực hiện chính sách lãi suất bằng 0 như FED.
Dự báo trong thời gian 1 tuần biến động tỷ giá EUR-USD: 1.310-1.300
GBP - USD
Về sức khỏe của nền kinh tế Anh, mức độ tài sản xấu của các tập đoàn ngân hàng lớn đang là rủi ro cho nền kinh tế Anh. Ngân hàng trung ương Anh đang ngày càng quyết liệt hơn trong việc cắt giảm lãi suất. Sụt giảm mạnh do lo ngại kinh tế Anh đang lún nhanh vào suy thoái, các tin xấu về các định chế tài chính ngân hàng Anh như HSBC, RBC ngày càng gây tâm lý bất ổn cho thị trường. Kinh nghiệm cho thấy đồng GBP thường bất ổn hơn so với EUR về biên độ giao động.
Dự báo trong thời gian 1 tuần biến động tỷ giá GBP-USD: 1.470-1.370
USD -JPY
Ngày càng có nhiều biểu hiện cho thấy kinh tế Nhật đang trầm trọng hơn, xuất khẩu sụt giảm mạnh. Gói khích thích kinh tế 150 tỷ USD và số đơn đặt hàng tăng là khởi sắc TTCK nhưng không bền vững
Chịa sự chi phối của quá trình risk appetite và risk aversion. Bộ Tài chính Nhật vẫn duy trì chính sách đồng JPY suy yếu để kích thích xuất khẩu, vấn đề này ngày càng được quan tâm hơn sau khi GDP Nhật công bố gần đây khá xấu.
Tình trạng đầu cơ lãi xuất khiến JPY có thể đi cùng chiều với USDindex.
Dự báo trong thời gian 1 tuần, biến động tỷ giá USD-JPY: 97.00-104.00
Theo quan niệm của tôi thì thị trường vàng – ngoại hối thế giới bị chi phối bởi các yếu tố sau:
1.Bản chất thật sự của giao dịch Ngoại hối và Vàng
Ngoại hối và vàng luôn vận động theo 3 bản chất sau:
+Nhân tố kinh tế và chính sách của 1 số quốc gia chính ( G7+ trung quốc)
+Tâm lý đầu cơ trên thị trường Spot market và future market là dịch chuyển nguồn vốn giữa các thị trường. Qua việc “trú ẩn nguồn vốn” tại vàng khi xảy ra khủng hoảng.
+ Công cụ giao dịch và công cụ tái sinh . Năng lực leverage khuyến đại volume giao dịch
2.Chỉ số USD index
2.1.Vì sao USD index tác động lên Vàng và Ngoại tệ khác
Theo George Soros- Nhà đầu cơ tiền tệ vĩ đại nhất hành tinh, chia sẽ rằng : “ Nếu bạn muốn giao dịch thành công trên thị trường ngoại hối, thì USD và sức khỏe kinh tế Mỹ luôn phải phân tích và cập nhật”
Ta đều biết USD có ba chức năng chính: phương tiện thanh toán (medium of exchange), đơn vị kế toán (unit of account), và lưu giữ tài sản (store of value). Mà USD chiếm 90% trong các cặp tiền được giao dịch mỗi ngày trên thế giới, nên 3 chức năng này được thực hiện trên tầm international. Nếu ta xem ngoại tệ ( Eur, Yen, BMR..) và Vàng là 1 loại hàng hóa được đo lường dựa trên USD. Điều đó, làm bất kỳ sự thay đổi nào của USD index đều là thay đổi giá của các ngoại tệ khác, và Vàng . Chính vì điều này, trong kinh doanh ngoại hối cũng như vàng thì USD index luôn là kim chỉ nang cho bất kỳ nhà đầu tư nào trong việc theo dõi biến động thị trường này. Nó vai trò quan trọng hơn bất kỳ nhân tố nào trong phân tích cơ bản của thị trường ngoại hối và Vàng.
Do đó, Việc theo dõi chuyển động của USD index trong ngắn và dài hạn là yếu tố sống còn của các nhà đầu cơ tiền tệ và vàng
2.2.Lịch sử của USD index ( nguồn từ Saga.vn)
USD Index ra đời tháng 03/1973 khi các cường quốc kinh tế thời kỳ đó đồng ý thả nổi đồng tiền của mình. Giá trị ban đầu của chỉ số này là 100.
Từ tháng 3/1973 UDX đạt cao nhất là 165 điểm và thấp nhất là 70 điểm vào tháng 4/2008. USD Index là chỉ số dùng để đo giá trị đồng đôla trên thị trường thế giới. Chỉ số này còn được gọi là Weighted Index, nghĩa là các thành viên cấu tạo này chỉ số này có một giá trị khác nhau.
USD Index được cấu tạo bởi 6 thành viên là: EUR (đồng tiền chung châu Âu Eurozone), JPY (Yên Nhật), GBP (Bảng Anh), CAD (Đôla Canada), SEK (Krona Thụy Điển), CHF (Franc Thụy Sỹ).
Mặc dù nhiều đồng tiền khác không phải thành viên của USD Index nhưng việc nó chuyển động theo các đồng tiền thành viên của chỉ số này cũng sẽ phản ánh vào mức độ cung cầu của đồng đô la trên thị trường thế giới.
Tỷ trọng của chỉ số này là số hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia với nhau và là sự trao đổi hối đoái giữa hai đồng tiền tạo thành một cặp tiền tệ. Nếu một đồng tiền trong cặp tiền tệ yếu đi nó sẽ làm chênh lệch lượng hàng hóa xuất nhập khẩu giữa 02 quốc gia này. Lượng hàng hóa xuất nhập khẩu không chỉ đơn thuần là hàng hóa xuất nhập qua cảng các nước mà còn biểu hiện khả năng cạnh tranh kinh tế của quốc gia. Khả năng này càng cao thì giá trị đồng tiền quốc gia đó càng lớn.
Nhìn về lịch sử thì USD đã kết thúc quá trình mất giá và giờ là điểm thay đổi theo hướng tăng giá trở lại. Từ năm 1970 thì chu kỳ tăng, giảm giá của USD là từ 5 - 7 năm cho mỗi một quá trình. Theo quy luật đó thì sau khi USD lên giá tới mức kỷ lục vào năm 2001 (USD Index lúc đó đạt gần 122 điểm), USD bắt đầu giảm giá so các loại tiền tệ mạnh khác của thế giới vào đầu năm 2002. Từ thời điểm đó đến nay đô la đã mất giá được hơn 6 năm (USD Index thấp nhất tháng 4/2008 gần 69 điểm) và giờ là lúc nó tìm lại chính mình và lấy lại những gì đã mất. Nếu lịch sử lặp lại sẽ làm cho giá dầu và giá vàng tiếp tục giảm xuống. Ngoài ra theo một quy luật khác của lịch sử đó là trong nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ do Đảng Cộng Hòa nắm quyền thì xu hướng giá vàng tăng và đồng đô la giảm giá, còn Đảng Dân Chủ thì ngược lại khi đồng đô la phục hồi đẩy giá vàng lao dốc.
Từ trước đến giờ người dân thế giới chỉ thấy Mỹ viện trợ hay giúp đỡ cho các quốc gia khác nhưng bây giờ cả thế giới đang chứng kiến điều ngược lại khi chính Mỹ sẽ phải cần đến các quốc gia trên thế giới hỗ trợ họ. Như việc các NHTW đồng loạt cùng hạ lãi suất, hay việc trao đổi tiền tệ giữa các NHTW và FED. Điều này cũng là điều cả thế giới đều mong muốn vì nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế đầu tàu, đồng đô la được sử dụng chủ yếu trong thanh toán giao dịch hàng hóa, là đồng tiền được sử dụng trong dự trữ ngoại tệ của các quốc gia, nền kinh tế Mỹ cũng là nơi tiêu thụ hàng hóa của các quốc gia khác. Bởi thế việc nền kinh tế Mỹ ổn định cũng sẽ giúp đưa kinh tế toàn cầu đi vào ổn định. Một khi cả thế giới chung sức lại, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn thì mọi người hãy có niềm tin rằng khủng hoảng sẽ dịu bớt, mọi thứ trở nên sáng sủa hơn và bình yên sẽ sớm trở lại với tất cả mọi người.
Nếu bạn muốn xem USD index online có thể vào trang này
2.3.Tác nhân biến đổi USD index
2.3.1.Chỉ số thong tin Kinh tê Mỹ
Sau đây là 1 số chỉ số chính có thể tác động mạnh lên thị trường chứng khoán toàn cầu và thị trường ngoại hối. Những chỉ số này biểu hiện đặt trưng cho “sứckhỏe” nền kinh tế Mỹ. Ở một số quỹ Hedge fund luôn có 1 ban chuyên trách phục vụ nghiên cứu các chỉ số này là cơ sở cho việc phán quyết đầu tư vào đâu? Loại ngoại tệ nào?
Thông tin từ FED, tôi xin xếp list of indicators theo tầm quan trọng của nó từ 1-9 sau;
Top Indicators
1
Non-Farm Payrolls
2
Trade Balance
3
Interest Rates (FOMC)
4
Inflation (CPI)
5
ISM Manufacturing
6
Empire Index
7
Durable Goods
8
Retail Sales
9
Producer Price Index
Các chỉ số này được công bố từng tháng, từng quý tại các cơ quan chuyên trách, và các báo đài.
2.3.2.Thị trường Chứng Khoán toàn cầu
Bởi vì TTCK vốn được ví là “phong vũ biểu” của nền kinh tế một quốc gia. Nghĩa là TTCK được xem đại diện cho “sức khỏe” của nền kinh tế quốc gia đó. Vậy TTCK phát triển bền vững một khi kinh tế thật sự tăng trưởng vững chắc. Tuy nhiên, TTCK không thể tác động trực tiếp đến thị trường ngoại hối và Vàng mà nó tác động làm thay đổi chỉ số USD index làm thay đổi giá của các ngoại tệ và vàng trên thị trường tiền tệ .
2.3.3.Chính sách lãi suất của 4 ngân hàng Trung Ưng hàng đầu thế giới
Hệ thống dự trữ liên bang (Federal Reserve System)
Nhất cử nhất động của FED, ngân hàng trung ương Hoa Kỳ, còn được biết đến với tên gọi - Hệ thống dự trữ liên bang (Federal Reserve System), đều tạo ra ảnh hưởng không chỉ với hệ thống tài chính mà toàn bộ nền kinh tế toàn cầu. Trong những ngày nóng bỏng của cuộc chạy đua vào vị trí ông chủ Nhà Trắng 2008, với những tin tức tồi tệ nhất, hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn xuất hiện từ cuối 2007 tại Hoa Kỳ, liên tiếp được phát đi từ các trung tâm tài chính quốc tế giới, giới quan sát dồn tất cả tập trung vào những động thái và tín hiệu của FED.
Vai trò trọng yếu của FED trong cỗ máy kinh tế thế giới trước tiên được lý giải bằng chức năng ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, nền kinh tế có giá trị tài sản lớn nhất hành tinh và mức tiêu dùng cao nhất. FED trực tiếp cung cấp nguồn tín dụng cho các tập đoàn đa quốc gia ở trong những ngành công nghiệp chủ chốt hoạt động. Và, gần như mọi ngân hàng trung ương của các quốc gia đều có quan hệ giao dịch với FED.
Chính sách Lãi suất( hạ lãi hay tăng lãi)
Cung tiền tệ của FED mua Bond của chính phủ hay commercial papers
Bắt đầu cuối tháng 3 FED tung độc chiêu cắt 0.75 điểm thay vì 1 điểm. Sau đó , lãi suất về 0-0.3%, USD lập tức lên giá, các nhóm đầu cơ phải mua lại USD để trả các hợp đồng bán khống nên dẫn đến sụp đổ thị trường vàng.
•ECB (European Central Bank): NHTW Châu Âu
•BoE (Bank of England): NHTW Anh
•BoJ (Bank of Japan): NHTW Nhật Bản
•BoC (Bank of Canada): NHTW Canada
•RBA (Reserve Bank of Australia): NH Dự trữ Úc
•SNB (Swiss National Bank): NH Quốc gia Thụy Sĩ
•CBR (Central Bank of the Russian): NHTW Nga
•PBC (People’s Bank of China): NH Nhân dân Trung Quốc
3.Động thái của quỹ đầu cơ vàng
Tuyệt đối đặt biệt chú trọng đến bất kỳ nhất cử nhất động của các quỹ đầu cơ Vàng. Dưới đây là bảng thống kê lượng vàng nắm giữ hàng lượng tuần của một số quỹ đầu tư lớn trên thế giới và đồng thời cũng là tuần các quỹ đầu tư vàng này có mức tăng hàng tuần lớn nhất.
SPDR
31.204.720
LYXOR
4.203.210
Ishares
2.243.825
ETF
2.294.749
NG
920.419
CFOC
1.049.328
GOLD
400.538
CGT
192.869
Tổng ounce
42.509.658
Kilo
1.322.198
Trong đó đáng kể nhất phải kể đến SPDR Gold Shares, quỹ đầu tư vàng hoán đổi lớn nhất thế giới và hiện nay có trữ lượng vàng lớn thứ 7 thế giới tuần này bán rất nhẹ 0.07 tấn vàng đưa trữ lượng nắm giữ còn 1,127.37 tấn giảm từ 1,127.44. SPDR thường có thói quen tham gia thị trường ( Bán hay Mua) vào 3-4pm.
Them vào đó, NHTW Châu Âu (ECB) cho biết: dự trữ vàng của ECB trong tuần (tính đến ngày 27 tháng 3) giảm khoảng 82 triệu EUR (109,3 triệu USD) xuống còn 217.543 tỷ EUR. Trong khi đó, dự trữ ngoại tệ ròng thì giảm 4.4 tỷ EUR xuống còn 276.6 tỷ EUR. Lượng vàng ECB đã bán trong tuần khoảng 3.7 tấn tại mức giá $936/oz hay EUR 690/oz.
Theo Hiệp hội Vàng thế giới - WGC cho biết giá vàng tăng đáng kể làm tăng lượng dự trữ vàng (tính theo giá trị) ở các NHTW trên toàn thế giới trong khi số lượng (tính theo khối lượng) vẫn như cũ. WGC bày tỏ ngạc nhiên rằng IMF đang nắm giữ 3217.3 tấn vàng, tại sao tổ chức này vẫn cần huy động tiền nữa trong bối cảnh khủng hoảng hiện tại. WGC chỉ ra Mỹ và Đức với 8133.5 và 3412.6 tấn vàng dự trữ là những quốc gia có lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới. Mặc dù lượng vàng của Fed, Bundesbank và ngân hàng TW Đức vẫn giữ nguyên, nhưng phần trăm giá trị dự trữ của các ngân hàng này lại tăng lần lượt là 2.4% và 7%. Ngoại trừ Pháp, Pháp quyết định đưa 20 tấn vàng vào thị trường. IMF nắm giữ 3217.3 tấn trong 3 tháng qua. WGC không đưa ra số liệu liên quan đến lượng dự trữ của UAE vì nước này không cung cấp thông tin cho IMF trong 6 tháng qua. Ả rập và Qatar có lần lượt là 12.4% và 3.7% dự trữ vàng.
Đây chỉ là một trong những phân tích cơ bản mà theo tôi là cần thiết. Những kiến thức này được tôi tổng hợp dựa trên quan điểm của George Soros- Nhà đầu cơ tiền tệ vĩ đại nhất hành tinh. Theo Soros, chỉ cần chúng ta phân tích hiểu rỏ về USD index và những nhân tố tác động USD index, thì việc dự doán xu hướng biến động thị trường tiền tệ dễ dàng hơn.
Tôi xin tóm lại các phân tích sau :
+ Bản chất của ngoại hối và vàng ( có thể tìm đọc them lịch sử về vàng và những thăng trầm của nó)