14 tháng 11, 2009

Mỹ đang lặp lại sai lầm của Nhật Bản


Đầu những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, khi bong bóng kinh tế Nhật Bản tan vỡ, chính phủ Nhật Bản đã vạch kế hoạch chi tiêu công với quy mô lớn và liên tục trong nhiều năm duy trì chính sách lãi suất siêu thấp cận 0%. Tuy nhiên, các “biện pháp kích thích này” đã không cứu vãn thành công nền kinh tế Nhật, 10 năm sau đó, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản bị đình trệ và phải đối mặt với tình trạng giảm phát.
Tình hình tương tự cũng đang xảy ra với Mỹ, một số nhà kinh tế cảnh báo rằng, nếu chính phủ Mỹ tiếp tục duy trì các “kế hoạch kích thích” và chính sách lãi suất siêu thấp, kinh tế Mỹ cũng sẽ rơi vào tình cảnh "10 năm mất mát" trước đây của Nhật Bản.

Mặc dù kinh tế Mỹ đã hé mở những dấu hiệu phục hồi, nhưng vẫn có một số nhà kinh tế lo lắng điều này sẽ chỉ là hiện tượng bề nổi, bởi vì tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng. Cho dù thị trường cổ phiếu Mỹ liên tục tăng điểm trong mấy tháng liên tiếp, nhưng thị trường việc làm và chi tiêu tiêu dùng vẫn bị co hẹp.

Theo số liệu của Bộ Lao Động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 10 của Mỹ là 10,2%, mức cao mới trong 26 năm qua. Các chuyên gia kinh tế dự đoán, con số này trong tháng 11 có thể sẽ leo lên 12%.

Tỷ lệ thất nghiệp leo thang không ngừng và chi tiêu liên tục co hẹp đã trở thành nỗi lo lớn nhất cho sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Thượng Nghị sỹ Đảng Cộng Hòa Sam Brownback, Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Lưỡng viện thuộc quốc hội Mỹ cho biết: “Theo tôi, kinh tế Mỹ đang lặp lại sai lầm của Nhật Bản trước đây, 10 năm mất mát tồi tệ đang tái diễn tại Mỹ. “Kế hoạch kích thích chỉ làm gia tăng thêm thâm hụt ngân sách mà không kích thích tăng trưởng và tạo cơ hội việc làm”.

Đương nhiên, cũng có người có quan điểm khác. Họ cho rằng, bất luận về văn hóa, cơ cấu kinh tế và mức độ phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu, Mỹ và Nhật Bản đều không giống nhau, vì thế “10 năm mất mát” của Nhật Bản sẽ không xuất hiện tại Mỹ. Tuy nhiên, những người có quan điểm phản đối cũng thừa nhận rằng, sau khi thực thi kế hoạch kích thích kinh tế quy mô lớn và kiên trì lâu dài chính sách lãi suất siêu thấp, kinh tế Mỹ tất nhiên sẽ vẫn phải trải qua một thời gian khổ đau.

Vàng sẽ nghiệm chứng sự suy yếu của đồng USD

Bất luận là trong một cuộc thi đấu nào, đối thủ mạnh thì đồng nghĩa là mình yếu. Tương tự như vậy, chiều hướng tăng mạnh của vàng cũng đang nghiệm chứng sư suy yếu của đồng USD. Vàng đối với đồng USD mà nói, vừa là đối tác vừa là đối thủ. Nhưng hiện tại đối với đồng USD, cuộc so lượng giữa nó với vàng dường như đã trở nên rõ ràng. Trong thời gian gần đây, kể từ khi chỉ số của đồng USD so vớí giỏ tiền tệ khác như đồng Bảng Anh, đồng EUR liên tục lập mốc thấp mới trong 15 tháng liên tiếp, thì vàng từ ngày 5/10 đến nay, bình quân 1,6 ngày đều tiến lên mốc cao kỷ lục mới trong lịch sử. Đến nay, giá vàng quốc tế đã chạm ngưỡng 1120USD/ounce, đây là mức giá vàng cao đỉnh điểm kể từ khi vàng tăng giá từ năm 2001 đến nay, tăng hơn 4,4 lần so với mức giá thấp 153USD/ounce của năm đó.

Trong khi đó, ở các lĩnh vực kinh tế quan trọng như ngành công nghiệp và hàng hóa khác vẫn chưa có những số liệu tích cực, chưa lập mốc cao kỷ lục nào, vì thế mà chúng ta chưa có lý do nào để phủ định cách nói, giá vàng quốc tế tăng mạnh là do đồng USD mất uy tin đối với người đầu tư gây ra. Vàng luôn đối đầu với đồng USD trong lĩnh vực tài chính, nó cũng cho thấy tâm lý của các nhà đầu tư toàn cầu. Thái độ của ETF về vàng quốc tế cũng rõ ràng hơn, bởi vì điều mà các sàn vàng phản ánh chính là ý nguyện của các nhà đầu tư.

Tình trạng trên đứng từ một khía cạnh khác cũng chứng tỏ, khi tiền tệ siêu quốc gia cách chúng ta còn khá xa, vàng sẽ trở thành một sự chờ đợi của các nhà đầu tư đối với tiền tệ siêu quốc gia. Cho đến nay, nếu một nhà đầu tư muốn lựa chọn một loại tiền tệ để làm đơn vị tiền tệ dự trữ ngắn hạn, thì đó chỉ có thể là đồng USD; Nhưng nếu các nhà đầu tư muốn lựa chọn một công cụ tránh rủi ro dài hạn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đứng trước viễn cảnh phức tạp và khó dự đoán, thì vàng sẽ thay thế được đồng USD. Từ động thái và nhận thức áp dụng các biện pháp để đa dạng hóa kho dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương các nước, chúng ta có thể cảm thấy được xu hướng này.

Mong muốn “trở lại châu Á” của Mỹ có gặp trở ngại?

Ôm quyết tâm thay đổi tình trạng lạc hậu về thương mại của khu vực châu Á Thái Bình Dương, một “đội ngũ hùng hậu” của Mỹ gồm có tổng thống Mỹ B. Obama, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton, Bộ trưởng Tài chính Mỹ T. Geithner, Bộ trưởng Thương Mại Mỹ G. Locke, đại diện thương mại Mỹ R. Kirk vào tuần này sẽ đặt chân đến Singapore, để tham dự Hội nghị thượng đỉnh APEC và Hội nghị Mỹ - ASEAN sắp được tổ chức vào thời gian tới.

Học giả Bavin tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore cho biết, lần này Mỹ đã tung ra tín hiệu xác thực về việc “quay trở lại châu Á” của mình, Hiệp định Tự do thương mại (FTA) cũng sẽ trở thành một nội dung thảo luận của Hội nghị Mỹ - ASEAN.

Quan hệ Mỹ-ASEAN đã được hỗ trợ mạnh mẽ từ chính sách mới, hướng tới châu Á của Mỹ. Tháng 8 vừa qua, Washington đã ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với ASEAN, vốn có tác dụng củng cố hơn nữa mối quan hệ đã tồn tại 3 thập niên.

Trên bàn cờ Châu Á của Nhà Trắng, ASEAN chiếm một vị thế chiến lược, được minh họa qua Hội nghị Thượng đỉnh giữa tổng thống Mỹ và 10 lãnh đạo Hiệp hội Đông Nam Á, dự trù vào chủ nhật tới. Đây sẽ là lần đầu tiên, một cuộc họp thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ và toàn bộ 10 lãnh đạo ASEAN, được tổ chức. Bởi vậy, cuộc hội đàm này sẽ đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Mỹ-ASEAN.

Như ông Jeffrey Bader, cố vấn cho tổng thống Mỹ về Châu Á đã kết luận : “Trong thời đại Châu Á tiếp tục vươn dậy và nhiều tổ chức cũng như cơ cấu mới thành hình, Hoa Kỳ sẽ chủ động tham gia trên sân chơi này, chớ không khoanh tay đứng nhìn”.

Ý tưởng xây dựng một khu vực tự do thương mại châu Á Thái Bình Dương là do cựu chính quyền Bush đưa ra đầu tiên vào năm 2006, nhưng liệu trong hội nghị thượng đỉnh APEC lần này, Mỹ có xúc tiến được việc xây dựng khu vực tự do thương mại châu Á Thái Bình Dương hay không, từ đó giúp Mỹ thông qua Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (ABAC) can thiệp vào các vụ việc kinh tế tại sân chơi này hay không còn phải chờ đợi thời gian mới giải đáp được.

Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, việc Mỹ muốn thực hiện mục tiêu này e rằng không dễ dàng gì, trước hết, nguyên tắc hợp tác tự chủ tự nguyện độc lập từ trước tới nay của APEC luôn làm trì hoãn tiến trình đàm phán. Còn ASEAN cũng chưa chắc đã ủng hộ “con đường APEC” của Mỹ. ASEAN đã hoàn thành đàm phán FTA với các nước châu Á Thái Bình Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, ngoài ra “xúc tu” của ASEAN đã duỗi ra tới tận Ấn Độ xa xôi. Trong mạng lưới hội nhập kinh tế châu Á Thái Bình Dương được thêu dệt nên từ con đường tự do thương mại, ASEAN ở vị trí then chốt. Nhưng việc thảo luận về hội nhập kinh tế châu Á Thái Bình Dương trong sân chơi của 21 quốc gia thành viên APEC bao gồm cả Mexico, Peru, Chile, sẽ không thể tránh khỏi việc suy yếu đi vị thế của ASEAN trong đó.