14 tháng 11, 2009

USD vẫn là mạnh nhất

Ngày 11/11, trong một bản báo cáo về tương lai của đồng USD, UBS Wealth Management khẳng định, hiện tại không có đồng tiền nào có thể thay thế được vị trí đứng đầu của USD. UBS Wealth Management khẳng định, thời gian gần đây, đồng USD liên tục chịu những tác động mạnh và rất có thể sẽ xuất hiện hiện tượng mất giá trong cơ cấu. Các bảng cân đối tài sản không mấy lạc quan có thể dự kiến được những áp lực về cơ cấu trong tương lai của đồng USD, đặc biệt là trong thời điểm hiện tại nước Mỹ vẫn đang ngập ngụa trong nợ nần và con số thâm hụt ngân sách thì quá lớn.

Bản báo cáo của UBS Wealth Management cũng dự đoán, mức lạm phát của Mỹ sẽ vượt qua bất cứ một quốc gia nào. Tuy nhiên, hiện tại không có bất cứ một đơn vị tiền tệ nào có thể thay thế được đồng USD. Ở nhiều nước trên thế giới đồng USD vẫn "làm chủ" trong các kho dự trữ ngoại tệ, do vậy đồng USD sụp đổ là một kết quả không một nước nào muốn nhìn thấy.

Bản báo cáo của UBS Wealth Management cho rằng sự bất cân bằng của kinh tế toàn cầu gây ảnh hưởng đến đồng USD mạnh mẽ hơn các đơn vị tiền tệ khác. Hiện tại cả USD và Yên Nhật đều đối mặt với những thách thức lớn.

Với nước Nhật, hiện tại con số nợ của chính phủ nước này chiếm tỷ trọng 200% trong tổng thu nhập quốc nội (GDP). Còn ở nước Mỹ con số thâm hụt ngân sách quá lớn, một con số gây sốc đó là chiếm 50% GDP của năm 2008. Bản báo cáo cũng cho rằng hiện tại đồng EURO là mạnh nhất bởi tiềm năng tăng giá cũng khả quan nhất. Hơn nữa, tỷ trọng các khoản nợ trong GDP của các nước châu Âu nhỏ hơn so với của Mỹ rất nhiều.

Trong 20 năm qua, những chính sách kinh tế của nhiều quốc gia mới nổi đã được cải thiện đáng kể. Nền kinh tế các nước mới nổi có những biểu hiện tăng trưởng đã trở thành những chất xúc tác quan trọng cho tăng trưởng của kinh tế khu vực và thế giới. Bản báo cáo của UBS Wealth Management cũng bày tỏ niềm hy vọng rằng môi trường kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế mới nổi sẽ tiếp tục được cải thiện, ví dụ như tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, giảm lạm phát, tăng năng suất, khuyến khích đầu tư và tăng nhu cầu trong nước.

Theo như dự đoán trong vòng 10 năm nữa nhiều loại tiền tệ của các thị trường đang nổi lên sẽ tăng giá mạnh, tuy nhiên về mặt giá trị dự trữ và chức năng trao đổi thì không thể so sánh với đơn vị tiền tệ của các nước phát triển. Bản báo cáo cho rằng, mặc dù tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi đang mạnh lên nhưng để trở thành một đơn vị tiền tệ quan trọng trong kho dự trữ ngoại hối toàn cầu ít nhất 10 năm nữa vẫn chưa thể hoàn thành.

Theo nhận định của các chuyên gia phân tích, mặc dù các vấn đề với đồng USD tồn tại nhiều nhưng vị trí bá chủ của đồng mỹ kim vẫn rất chắc chắn, chiếm tỷ trọng lớn trong kho dự trữ ngoại tệ của các nước. Với các vấn đề phức tạp xung quanh đồng USD, gần đây các nước đã kêu gọi xây dựng một kho dự trữ ngoại hối đa dạng hóa, do vậy lượng USD trong tay các nhà đầu tư vẫn đang giảm xuống.

Mặc dù về phương diện là đồng tiền dự trữ toàn cầu, đồng EURO là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của USD nhưng do cơ cấu chính trị của các nước tại khu vực châu Âu là không đồng nhất khiến cho cơ hội trở thành đồng tiền dự trữ của EURO cũng giảm xuống. Đồng Yên cũng mất đi những cơ hội này bởi khoản nợ của Chính phủ Nhật chiếm tỷ trọng lớn trong GDP. Đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc vì không thể tự do trao đổi nên đây cũng là trở ngại cho đồng tiền này trong quá trình quốc tế hóa.

Hiện tại không có đơn vị tiền tệ nào đủ mạnh để thay thế đồng USD do đó việc thành lập một đơn vị tiền tệ dự trữ đa dạng mà USD làm chủ là một kết quả có khả năng nhất.
Đồng USD vững vàng sau ý kiến của ông Geithner
Đồng Mỹ kim được củng cố phiên ngày 12/11 sau khi Bộ trưởng Ngân khố Mỹ Timothy Geithner nêu bật vai trò của đồng bạc xanh đối với sự ổn định trong nền kinh tế.
Đồng EURO giảm 1,4845 USD vào lúc 22 giờ 20 (giờ GMT) từ 1,4978 USD cuối phiên 11/11 tại New York.

Ông Geithneer đã lặp lại vị thế của đồng đôla sau cuộc họp với 21 bộ trưởng tài chính từ Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Nga.

Ông cũng cho biết việc đồng đôla vững mạnh rất quan trọng cho Mỹ và tiến trình phục hồi kinh tế.

Ông Geithner cũng thừa nhận về tầm quan trọng của kinh tế Mỹ và đồng đôla. Ông nói: “Chúng tôi đóng vai trò là nguồn sức mạnh và sự ổn định đối với kinh tế toàn cầu”.

Michael Malpede, chuyên gia làm việc tại Easy Forex cho biết, đồng đôla được nâng lên sau khi Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nói rằng: “Thế giới đang đối mặt với sự phục hồi không đồng đều”.

Đồng EURO, tiền tệ có độ rủi ro cao hơn USD có giá cao hơn trên thị trường, trong khi đồng bạc xanh có nơi trú ẩn an toàn cũng giao dịch khá hơn vào một số thời điểm khó khăn.

Trên nhiều thị trường hàng hóa, giá vàng chạm kỷ lục 1.123 USD/ounce vào buổi sáng khi giao dịch được tiếp thêm tin hỗ trợ từ khu vực chứng khoán và đồng bạc xanh. Tại London, giá vàng lên mốc cao nhất 1.123,38 USD/ounce.

Nhiều thương nhân cũng chờ đợi số liệu tăng trưởng kinh tế khu vực Eurozone vào ngày 13/11 với kỳ vọng nền kinh tế của 16 nước sử dụng đồng tiền chung EURO này thoát khỏi suy thoái trong quý ba.

Tại Mỹ, các đơn trợ cấp thất nghiệp giảm trong hai tuần liên tiếp, cho thấy sự cải thiện ít ỏi đã có mặt tại thị trường lao động hỗn loạn này. Các đơn xin trợ cấp thất nghiệp trong tuần (tính đến ngày 07/11) đứng ở mức 502.000, giảm 12.000 so với số liệu công bố vào tuần trước đó.

Vào cuối phiên giao dịch tại New York, đồng Mỹ kim đứng ở mức 1,0173 Francs Thụy Sỹ từ 1,0078 vào ngày 11/11. Đồng Bảng Anh lên 1,6580 USD sau khi đứng ở mức 1,6572.

Chính sách tiền tệ thế giới có đang chuyển hướng?

Theo sau Úc, Israel và Na Uy cũng đã trở thành những nước đầu tiên nâng lãi suất cơ bản sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặc dù, Ngân hàng trung ương Ấn Độ chưa tăng lãi suất, nhưng gần đây cũng quyết định nâng tỷ lệ lưu động vốn. Động thái thắt chặt tiền tệ của 4 nước nói trên liệu có mở ra một trào lưu nâng lãi suất toàn cầu, dư luận quốc tế tự hỏi: Chính sách tiền tệ đang chuyển hướng? Trên thực tế, những quốc gia tiên phong trong việc nâng lãi suất đưa ra chính sách của mình chỉ là dựa theo sự thay đổi của tình hình kinh tế vĩ mô của nước mình. Chẳng hạn như tuyên bố của Ngân hàng trung ương Úc cho thấy, kinh tế Úc biểu hiện tốt hơn dự đoán, các chỉ số lòng tin đã được khôi phục. Nguy cơ kinh tế co hẹp nghiêm trọng đã qua, Ngân hàng trung ương Úc cho rằng, “Việc từ từ rút lui các chính sách tiền tệ mang tính kích thích đã thực hiện trong thời kỳ nền kinh tế u ám phải vô cùng thận trọng”. Cũng theo tuyên bố nâng lãi suất của Ngân hàng trung ương Na Uy, ước tính trong vài năm tới tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia này sẽ giữ ở mức thấp, còn tốc độ tăng lương sẽ nhanh hơn so với dự đoán.

Hai nền kinh tế Na Uy và Úc đã khôi phục nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hai nước này còn được lợi từ danh hiệu cường quốc tài nguyên năng lượng. Na Uy là cường quốc xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, việc tăng giá năng lượng quốc tế đã thúc đẩy nền kinh tế nước này phục hồi, đồng thời đã đẩy vật giá tăng lên. Cũng là một cường quốc năng lượng, tình hình của Úc cũng lạc quan tương tự như trên, sự đảo ngược mạnh mẽ của các nền kinh tế khu vực châu Á đã khiến cho giá nguyên vật liệu và hàng hóa tăng theo, trở thành một động lực mạnh mẽ giúp Úc nhanh chóng phục hồi và thoát ra khỏi cơn suy thoái.

Tuy nhiên, bất luận là Israel, Na Uy hay Úc, tỷ trọng của các quốc gia này trong nền kinh tế thế giới vẫn khá nhỏ. Đối với các nền kinh tế lớn chủ yếu trên thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản mà nói, con đường phục hồi kinh tế vẫn còn khúc khuỷu. Cho dù GDP trong quý III của Mỹ tăng 3,5%, nhưng vật giá vẫn chưa thoát khỏi bóng tối của sự giảm phát.

Điều tồi tệ hơn là, tỷ lệ thất nghiệp vẫn tăng cao, số liệu mới nhất cho thấy là 10,2%, mức cao nhất trong 25 năm qua. Do đó, trong hội nghị chính sách tiền tệ gần đây, Cục dự trữ liên bang Mỹ FED không những chưa “ám thị” khả năng nâng lãi suất, trái lại cón nhấn mạnh đến việc tránh nguy cơ giảm phát.

Tại Nhật Bản, Ngân hàng trung ương Nhật dự đoán, hai năm tài khóa tới, Nhật Bản sẽ tiếp tục đương đầu với áp lực giảm phát, chỉ số giá cả hàng hóa trong tháng 9 giảm 2,3% so với cùng kỳ năm ngoái, là mức trượt giảm của tháng thứ 7 liên tiếp. Về việc này, Ngân hàng trung ương Nhật tuyên bố, trong thời gian ngắn sẽ vẫn duy trì chính sách lãi suất thấp cho đến khi phục hồi kinh tế đã ổn định vững chắc.

Còn tại khu vực đồng tiền chung châu Âu Eurozone, mặc dù chiều hướng tụt giảm nghiêm trọng đã được kìm chế, thị trường tín dụng và lòng tin đã khôi phục và ổn định trở lại, nhưng thị trường lao động vẫn đang trong tình trạng nguy cấp, số người thất nghiệp vẫn chưa xác định. Do đó, dự đoán khu vực Eurozne sẽ không vội vàng rút lui các chiến lược kích thích kinh tế.

Hiện tại, kinh tế thế giới đã xuất hiện những dầu hiệu hồi sinh ổn định. Tình hình kinh tế vĩ mô của các nước không giống nhau, nên trong việc lựa chọn các chính sách cũng có nhiều điểm khác biệt. Song, đúng như Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương nhóm các nước G20 đã nói, các nước nên tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Sau khi kinh tế hoàn toàn phục hồi, các nước nên hợp tác và phối hợp rút lui các chính sách hỗ trợ kinh tế và tài chính vĩ mô phi chính quy.

Buffett: Tài chính thế giới đã qua giai đoạn hoảng loạn

Theo nhận định của nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett, mặc dù kinh tế Mỹ vẫn đang gặp nhiều khó khăn nhưng thời kỳ hoảng loạn của kinh tế toàn cầu bùng nổ từ năm ngoái đã đi qua.
Phát biểu tại Đại học Columbia, nhà đầu tư Buffett cho biết: "Thời kỳ hỗn loạn của kinh tế đã cách chúng ta rất xa rồi, nhưng kinh tế Mỹ vẫn tồn tại một số khó khăn".

Tháng trước, theo các số liệu mới được công bố bởi Chính phủ Mỹ, tăng trưởng GDP của Mỹ trong quý ba năm nay là 3,5%, đây là quý đầu tiên GDP của Mỹ tăng trưởng kể từ quý hai năm 2008. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ vẫn tăng lên thành 10,2% trong tháng 10, khiến con số thất nghiệp của Mỹ lần đầu tiên đạt được hai con số trong 26 năm qua.

Tuy nhiên nhà đầu tư huyền thoại cũng chỉ ra rằng, do Mỹ là thể chế kinh tế lớn nhất toàn cầu nên các cơ hội đầu tư vào Mỹ sẽ lớn hơn rất nhiều so với các quốc gia và khu vực khác. Ngoài những dữ liệu cải thiện của kinh tế vĩ mô, trong quý III/2009, các thành tích kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ cũng đã có bước đầu tăng khá thuận lợi. Trong 188 doanh nghiệp công bố kết quả kinh doanh của Mỹ, tỷ lệ những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt hơn dự kiến là 80%. Hơn nữa, trong kết quả điều tra kim ngạch tiêu thụ của 43% số doanh nghiệp đã vượt xa so với dự đoán.

Ngoài ra, tỷ phú Buffet cũng gợi ý rằng, Chính phủ Mỹ không nên quá "cưng chiều" những công ty sau khi nhận được cứu trợ của Chính phủ mới có thể tồn tại hoặc mới có thể duy trì đủ lượng vốn của mình. “Những công ty đó sẽ còn cần nhiều nguồn vốn hơn nữa” – ông khẳng định. Ngoài ra nhà đầu tư huyền thoại cũng đánh giá cao các phương án ứng phó với khủng hoảng tài chính của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Ben Bernanke và Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner.

Nguồn tin: nguồn 1