12 tháng 9, 2009

Điều gì đã xảy ra nếu Lehman Brothers không sụp đổ?


Điều gì đã xảy ra nếu Lehman Brothers không sụp đổ?

Việc để Lehman Brothers sụp đổ là sự hy sinh cần thiết để cứu cả hệ thống tài chính. Nếu không "run sợ" với Lehman và AIG, Quốc hội Mỹ có thể không thông qua kế hoạch 700 tỷ USD.


Nếu Lehman không sụp đổ, khủng hoảng nhiều khả năng sẽ vẫn đến.

Tháng 8/2008, chuyên gia kinh tế học Kenneth Rogoff thuộc đại học Harvard khiến thị trường chứng khoán toàn cầu chấn động khi đưa ra lời cảnh báo: “Trong vài tháng tới, chúng ta sẽ không chỉ chứng kiến những ngân hàng có quy mô trung bình sụp đổ, chúng ta sẽ thấy một ngân hàng hoặc một ngân hàng đầu tư lớn đi đến hồi cáo chung.”

Một tháng sau đó, khi ngày 15/09/2008 bắt đầu những thời khắc đầu tiên, ngân hàng Lehman Brothers nộp đơn xin bảo hộ phá sản.

Ông Harold James, chuyên gia kinh tế lịch sử tại đại học Princeton – Mỹ, nhận xét vụ việc ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ có điểm tương đồng với việc ngân hàng Creditanstalt – một ngân hàng lớn của Áo đóng cửa vào năm 1931. Áo và Đức khi đó vay tiền quá nhiều từ các chủ nợ nước ngoài, ngân hàng Creditanstalt đóng cửa, ảnh hưởng của Đại Khủng hoảng lúc đó trở nên trầm trọng hơn.

Vụ việc ngân hàng Lehman được coi như bước ngoặt trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại, một yếu tố biến cuộc suy thoái thành một cuộc đại khủng hoảng mới.

Tuy nhiên ông Rogoff có quan điểm khác. Theo ông, từ trước khi ngân hàng Lehman sụp đổ, nước Mỹ đã tiềm ẩn đủ tiền đề dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính: những khoản nợ hàng nghìn tỷ USD đảm bảo bởi bong bóng tài sản.

Các ngân hàng thua lỗ tới hơn 500 tỷ USD chỉ trong tháng 8/2008. Nếu ngân hàng Lehman không bị các nhà hoạch định chính sách để sụp đổ, nhiều tổ chức khác hẳn đã có kết thúc tương tự.

Tuần trước khi ngân hàng Lehman sụp đổ, các chỉ số trên thị trường tương lai dự báo về khả năng giá nhà đất tại các khu vực đô thị của Mỹ hạ 15% trong khoảng thời gian 9 tháng tiếp theo dù trước đó giá nhà đất đã hạ tới 24%.

Từ đó đến nay, giá bất động sản đã hạ gần bằng mức đó. Kết hợp với với việc giá bất động sản thương mại giảm mạnh, một số ngân hàng đã bên bờ vực sụp đổ. Cùng tuần đó, thị trường phái sinh phát đi tín hiệu về khả năng ngân hàng tiết kiệm lớn Washington Mutual sẽ phải đóng cửa là 85%. Thực tế đúng như vậy

Nhiều tổ chức tài chính lớn đã nhận tiền giải cứu của chính phủ cùng thời điểm Lehman sụp đổ như AIG, ngân hàng UBS và Fortis tại châu Âu

Xét từ góc độ kinh tế thuần túy, vụ sụp đổ của Lehman đã gây ra nhiều hậu quả đau đớn. Thị trường thương phiếu, thị trường phái sinh và các thị trường vốn chấn động, khả năng thanh khoản của các ngân hàng sụt giảm nghiêm trọng. Dòng chảy vốn và thương mại sụp đổ. Thế giới rơi vào vòng xoáy tín dụng thắt chặt, tăng trưởng kinh tế đi xuống.

Tháng 7/2008, IMF dự báo kinh tế thế giới năm 2009 tăng trưởng 3,9%. Hiện nay, mức dự báo này điều chỉnh xuống còn âm 1,4%. Tháng 8/2008, Moody dự báo 2,9 triệu người vay thế chấp tại Mỹ sẽ mất khả năng trả nợ trong năm 2009, đến nay Moody dự báo con số đó sẽ chạm mức 3,8 triệu.

Ông Mark Zandi, chuyên gia kinh tế trưởng tại Moody, nhận xét một loạt sai lầm về chính sách và khủng hoảng tài chính đã tác động hết sức tiêu cực đến thị trường việc làm và thu nhập của người dân.

Nhìn từ góc độ chính trị, có thể thấy thật khó để ngăn những sai lầm này. Khi Bộ Tài chính và FED cứu ngân hàng Bear Stearns vào tháng 3/2008, họ đã chịu quá nhiều chỉ trích từ phía Quốc hội và nhiều chuyên gia về việc đã tạo ra mối rủi ro đạo đức mới.

Cùng thời gian đó, một loạt các động thái can thiệp vào các tổ chức tài chính khác trong đó có Lehman khiến những tổ chức này tin rằng nếu có điều gì xảy ra, họ sẽ được cứu.

Nếu Lehman được cứu, làn sóng chỉ trích sẽ dâng cao hơn, và các công ty sẽ còn tiếp tục kỳ vọng họ sẽ được cứu. Ông Rogoff cho rằng xét đến áp lực chính trị, có lẽ cần phải để một tổ chức lớn sụp đổ.

Theo những phân tích của ông, trong các cuộc khủng hoảng tài chính, thông thường người ra sẽ để cho tổ chức tài chính có quy mô lớn khoảng thứ 4 hoặc thứ 5 sụp đổ và còn lại sẽ cứu các tổ chức khác.

Nếu xét lại, giải pháp hợp lý sau khi sau khi chính phủ cứu ngân hàng Bear Stearns sẽ là đưa ra chương trình tổng thể để tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng, ngoài ra đưa ra khung xử lý cụ thể cho những tổ chức có khả năng sụp đổ. Bộ Tài chính và FED thực tế đã có kế hoạch làm điều này nhưng lo ngại Quốc hội sẽ từ chối.

Lịch sử cho thấy việc chính phủ các nước cứu các ngân hàng không nhận được nhiều ủng hộ. Chính phủ Nhật chậm trễ tái cấp vốn các ngân hàng thời thập niên 1990 bởi sự hỗ trợ ban đầu của họ đã hứng chịu “búa rìu dư luận”. Một số chuyên gia kinh tế Mỹ người đã từng chỉ trích sai lầmNhật nay đã có thái độ thông cảm hơn. Ông Larry Summers, tư vấn kinh tế hàng đầu cho Tổng thống Obama, đầu năm nay đã nói với Financial Times: “Người ngoài sẽ dễ đưa ra những giải pháp phù hợp hơn người trong cuộc.”

Nếu ông Rogoff đúng và nếu có thêm tổ chức tài chính sụp đổ thì việc ngân hàng Lehman phải đóng cửa, dù có gây ra nhiều hậu quả đau đớn, có thể là cần thiết. Các đợt khủng hoảng hệ thống ngân hàng trước đây cuối cùng thường được giải quyết bằng cách bơm vào nhiều vốn.

Ngân hàng Lehman đóng cửa, các nhà hoạch định chính sách trở nên tỉnh táo hơn. Chỉ sau khi choáng váng với Lehman, với AIG, Quốc hội mới chịu thông qua kế hoạch 700 tỷ USD. Nhiều chính phủ các nước giàu có khác cũng đã tiến hành bảo đảm nợ ngân hàng, nâng mức bảo hiểm tiền gửi và bơm vốn trực tiếp vào các ngân hàng.

Khi ngân hàng Áo Creditanstalt sập tiệm vào năm 1931, áp lực chính trị lên quá cao cản trở sự hợp tác quốc tế. Phản ứng của thế giới đối với vụ việc Lehman lần này đã mang lại nhiều hiệu quả hơn. Bộ Tài chính sẵn sàng cứu AIG, nhiều đối tượng châu Âu khác cũng hưởng lợi.

Ông Rogoff cho rằng nếu FED và Bộ Tài chính đã có thể đưa ra các quyết định một cách thuận lợi, không chịu cản trở về chính trị, kết quả hẳn sẽ còn tốt hơn. Tuy nhiên khả năng đó không thể xảy ra, vụ sụp đổ của Lehman nhiều khả năng đã đẩy nhanh việc đưa ra những giải pháp ứng phó với khủng hoảng.

Theo Economist

Phố Wall một năm sau ngày ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ

Phố Wall một năm sau ngày ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ

Mặc dù một số cái tên lừng danh một thời đã biến mất hoặc chỉ còn là cái bóng của chính mình, phố Wall vẫn chưa thay đổi nhiều. Nó vẫn hoạt động trên nguyên tắc đặt lợi ích của mình lên trên hết, rồi đến các khách hàng lớn, cuối cùng mới đến xã hội.

Lời lớn, thưởng hậu, bất chấp những cố gắng hạn chế thu nhập của cơ quan điều tiết, lại trở thành chuyện bình thường. Việc làm ăn thuận buồm xuôi gió do nhu cầu dịch vụ huy động vốn lớn sau khi toàn thế giới đã mất hàng ngàn tỷ đô la trong hai năm vừa qua.

Tương lai của phố Wall xán lạn hơn nhiều so với những người dân thường đang cố vật lộn với danh mục chứng khoán thua lỗ. Đấy là còn chưa kể đến mất việc.

Giờ hãy nói đến những bài học. Thứ nhất, việc các cơ quan giám sát và ngân hàng trung ương không thể cứu vãn được Lehman cho thấy so với ngân hàng trung ương, thị trường vốn toàn cầu đang ngày càng trở nên hùng mạnh. Khó mà biết quyền lực nằm trong tay ai.

Bài học thứ hai là về cái gọi là “đóng cửa bảo nhau.” Sau khi suýt nữa nhấn chìm thế giới vì vụ Lehman, chính quyền Mỹ lại quyết tâm bảo vệ những định chế tài chính xuyên quốc gia còn lại hơn bao giờ hết..

Không cần biết họ nói với nhau những gì trước công chúng, nhưng cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn đều biết rằng, các tập đoàn sẽ đều được “nâng niu.”

Ví dụ như ở Mỹ, nhiều cơ quan chính phủ đã tiêu tốn hàng núi tiền để bảo vệ cho các định chế tài chính, từ bảo đảm nợ, cho vay vốn siêu rẻ và giúp gây dựng những thị trường béo bở cho phố Wall.

Không một chính trị gia hay quan chức có đầu óc nào lại liều lĩnh để xảy ra một Lehman II.

Tại sao lại là Lehman?

Vụ phá sản của Lehman diễn ra đầy bất ngờ vì Lehman lớn hơn nhiều so với Bear Stearns, ngân hàng đã được FED và Bộ Tài chính giải cứu 6 tháng trước đó do lo ngại có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền tới toàn bộ nền tài chính.

FED và Bộ Tài chính đã dàn xếp để J.P. Morgan Chase mua lại Bear, giải cứu cho các chủ nợ của Bear Stearns, trả 10 đô la cho mỗi cổ phiếu lúc đó đã vô giá trị và khiến người nộp thuế vướng vào 29 tỷ đô la tài sản mà Morgan coi là quá rủi ro.

Tại sao chính phủ lại giải cứu Bear Stearns trên danh nghĩa giải cứu hệ thống tài chính thế giới nhưng lại để Lehman sụp đổ 6 tháng sau đó?

“Không phải chính phủ Mỹ không muốn cứu Lehman; mà vì họ không đủ thẩm quyền để làm điều đó,” Bộ trưởng Tài chính Tim Geithner nói.

"Người ta nghĩ rằng chính quyền để Lehman sụp đổ vì họ muốn dạy cho giới tài chính một bài học,” nhưng họ đã lầm. “Hạn chế cơ bản là khi ấy Bộ Tài chính không có quyền” bơm vốn cho Lehman, và “ngân hàng trung ương không thể lấp đầy lỗ hổng về vốn."

Thật kỳ quặc nếu cho rằng FED và Bộ Tài chính đã bị kiềm tỏa. Hãy nhớ lại xem họ đã sáng tạo thế nào để các ngân hàng đầu tư có thể tiếp cận với chương trình vay vốn dành riêng cho ngân hàng của FED không lâu sau khi Bear phá sản, rồi sau đó tìm ra hàng tá cách bơm tiền vào hệ thống tài chính.

Nhưng ông Geithner cũng nói rằng đã có một cuộc tháo chạy khủng khiếp tại Lehman. Không ai muốn ôm vào các khoản nợ của Lehman như Morgan đã làm với Bear, FED đáng lẽ đã có nguy cơ thua lỗ hàng trăm, hàng ngàn tỷ đô la vì Lehman không có đủ tiền ký quỹ để hoạt động đúng theo quy định.

Khi ấy, về bản chất, thực lực của FED thua sút hơn nhiều so với thị trường tài chính.

Hóa bùn

Ông Geithner nói chính phủ và các cơ quan giám sát đã dự đoán trước những điều tồi tệ sẽ đến sau khi Lehman sụp đổ, chỉ có điều họ không nghĩ mọi chuyện lại tệ đến thế.

Một trong những bất ngờ khó chịu nhất là vụ phá sản đầu tiên của một quỹ hỗ tương thị trường tiền tệ cỡ lớn như Reserve Primary Fund do trái phiếu của Lehman. Hàng triệu người hoảng sợ và chính phủ phải bảo đảm cho các tài khoản tiền gửi để tránh một cuộc tháo chạy có thể hủy diệt cả thị trường tài chính ngắn hạn.

Goldman Sachs và Morgan Stanley cũng có nguy cơ sụp đổ khi các quỹ đầu cơ sử dụng nghiệp vụ “nhà môi giới chính” tại đây rút dần tài sản để tránh bị đóng băng tài sản như các khách hàng của Lehman.

Vì thế, FED phải để Goldman và Morgan chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng để có thể tiếp cận tối đa với hàng lọat các công cụ cho vay dành riêng cho ngân hàng. Thật đáng sợ nếu một trong hai ngân hàng đó sụp đổ.

Thực tế, nếu không rơi vào tình thế quá đặc biệt như thế, Lehman cũng thuộc hàng “quá lớn để đổ vỡ”. Đây giống như một cuộc thử nghiệm cho học thuyết “quá lớn để đổ vỡ,” và học thuyết đó đã được xác nhận.

Chính phủ Mỹ duy trì họat động của hệ thống tài chính với một cái giá khổng lồ cho người nộp thuế cả ở hiện tại và tương lai. Người ta nghĩ rằng phố Wall sẽ đẩy mạnh cho vay, tạo ra lợi nhuận và trợ giúp cho cả nền kinh tế. Như có một người thuộc giới tài chính đã châm biếm, “Chết vì tham, thoát được cũng nhờ tham."

Thay đổi vĩnh viễn? Quên chuyện đó đi. Phố Wall vẫn là phố Wall. Chính phủ và dân chúng phải chịu đựng họ vì chẳng còn con đường nào khác.

Giải pháp của ông Geithner là yêu cầu các công ty hàng đầu dự trữ thật nhiều vốn và cho phép chính phủ thanh lý chúng khi cần thiết. Nhưng có lẽ, cách duy nhất là tách các tập đoàn khổng lồ ra để đảm bảo không có công ty nào là quá lớn để sụp đổ.

Ký ức về một năm đầy hỗn loạn trên phạm vi toàn cầu cứ phai nhạt dần, còn đề xuất của ông Geithner thì cứ chìm dần vào quên lãng.

Theo WashingtonPost

11 tháng 9, 2009

Cuộc “tỉ thí” giữa Ấn Độ - Trung Quốc về kinh tế






Tờ “Vanguard” của Tây Ban Nha đưa tin, Trung Quốc và Ấn Độ là hai cường quốc về dân số, đang nhanh chóng trở thành hai người khổng lồ kinh tế đòi hỏi vị trí tương đương nhau trên vũ đài chính trị thế giới. Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là những vai chính. Tuy nhiên, trong cuộc chạy đua cạnh tranh kinh tế này, Ấn Độ dường như đang yếu thế hơn so với Trung Quốc.
Xét về tổng quan kinh tế, hiện nay, New Delhi đang tạm thời ở sau người láng giềng của mình. Trung Quốc chỉ có 5% dân cư sống dưới mức nghèo khổ, còn tại Ấn Độ con số này là 29%. Thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc gần gấp đôi so với Ấn Độ. Bắc Kinh cũng tỏ ra thành công hơn New Delhi trong việc thu hút đầu tư. Theo số liệu chính thức, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng quốc gia Bắc Á đã thu hút được 48,3 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong 7 tháng đầu năm nay (từ tháng 1 - tháng 7).

Nguyên nhân một phần là do Hoa kiều tỏ ra tích cực hơn Ấn kiều trong các hoạt động đầu tư trong nước, mặc dù cộng đồng người Ấn xa tổ quốc cũng có nhiều doanh nhân thành đạt. Bên cạnh đó, theo Ngân hàng Thế giới, tuy tích cực mở cửa cho đầu tư nước ngoài từ đầu những năm 1990, Ấn Độ chưa phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng: như điện, đường sá, hàng không... Nhiều vùng nông thôn hiện vẫn chưa có điện.

Mặt khác, mức đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp (tiếp tục chiếm 60% lực lượng lao động) cho GDP trên đà đi xuống. Các ngành công nghiệp của Ấn Độ thì chưa lặp lại được kỳ tích của lĩnh vực dịch vụ. 6 ngành công nghiệp chính: chế biến thực phẩm, dệt, may, gỗ, giấy và luyện kim đều phát triển chậm chạp trong 4 năm trở lại đây.

Tuy nhiên, quốc gia Nam Á này cũng có lợi thế riêng của mình. Ấn Độ đã nỗ lực “vun trồng” một số công ty mạnh, có thể cạnh tranh ngang ngửa với những hãng lớn của Mỹ hay châu Âu. Những công ty Ấn này sử dụng công nghệ mới, thuộc các ngành dùng nhiều chất xám, như hãng phần mềm lừng danh Infosys, Wipro, các hãng dược phẩm nổi tiếng Ranbaxy, Dr Reddy"s Labs. Trong các thống kê của tạp chí Forbes về những công ty lớn nhất thế giới, số lượng công ty Ấn Độ góp mặt vào trong bảng xếp hạng thường nhiều hơn so với Trung Quốc.

Bên cạnh đó phát triển công nghệ thông tin là thế mạnh của Ấn Độ. Đây là một ngành đòi hỏi ít chi phí về cơ sở hạ tầng. Nhờ sự lớn mạnh của lĩnh vực này, tốc độ phát triển kinh tế của Ấn Độ không ngừng tăng mạnh.

Theo nhận định của một số chuyên gia, hệ thống dân chủ của quốc gia Nam Á, cùng những mối quan hệ thân thiện mới thiết lập với kiều dân, có thể đẩy nước này lên quỹ đạo tăng trưởng cao hơn so với nước láng giềng phía bắc. Hiện tại, Trung Quốc và Ấn Độ đã lựa chọn hai con đường khác nhau trong cuộc đua phát triển kinh tế. Trung Quốc mở rộng cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi Ấn Độ phát triển các doanh nghiệp trong nước. Các chuyên gia cũng nhấn mạnh thêm rằng, Ấn Độ đang "hành động khôn ngoan" khi sử dụng nguồn lực bên trong, và cuối cùng có thể trở thành người chiến thắng trong cuộc tranh đua về kinh tế với nước láng giềng.